Hiển thị các bài đăng có nhãn Sinh lý người. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sinh lý người. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 13 tháng 6, 2017

SINH LÝ MÁU

SINH LÝ MÁU (PHẦN 3)
Bạn có thể xem lại phần 2 ở đây

6. Kháng nguyên hồng cầu và xác định nhóm máu 
            Có một số phân tử trên bề mặt của tất cả các tế bào trong cơ thể có thể được tiếp nhận như là ngoại lai bởi hệ thống miễn dịch của một cơ thể khác. Các phân tử này được gọi là kháng nguyên (antigen). Là một phần của đáp ứng miễn dịch, các lympho bào tiết ra một nhóm các proteins được gọi là các kháng thể (antibody) liên kết một cách đặc hiệu với các kháng nguyên. Tính đặc hiệu của kháng thể đối với kháng nguyên là tương tự với tính đặc hiệu enzyme với cơ chất, và các proteins thụ thể với các chất dẫn truyền thần kinh hay hormone.
Hệ thống ABO
            Việc phân tích các kháng nguyên trên các tế bào khác nhau khác nhiều so với các

Thứ Sáu, 28 tháng 10, 2016

SINH LÝ MÁU

SINH LÝ MÁU (PHẦN 2)


[Bạn có thể xem phần 1 SINH LÝ MÁU ở đây]
4. Bạch cầu
            So với hồng cầu, bạch cầu có số lượng ít hơn rất nhiều trong máu, chiếm chỉ 4.000 – 10.000 mỗi mm3 máu (bảng 2 cho thấy sự đóng góp của hồng cầu và bạch cầu trong máu). Các bạch cầu có nhân và sở hữu tất cả các bộ máy nội bào thông thường, vì thế chúng chỉ là các tế bào thực hiện chức năng đầy đủ trong máu. Không như hồng cầu, bạch cầu được tìm thấy không chỉ trong dòng máu mà còn ở các mô khác trong cơ thể. Sự có mặt của các bạch cầu bên ngoài mạch máu là kết quả đến từ khả năng di chuyển của chúng, cho phép chúng uốn ép qua các lỗ trên mao mạch và di chuyển qua các mô. Khả năng di chuyển này quan trọng đối với chức năng của nó, đó là bảo vệ cơ thể trước những vi sinh vật xâm nhập và các vật liệu khác từ bên ngoài.



Thứ Bảy, 22 tháng 10, 2016

SINH LÝ MÁU

SINH LÝ MÁU (PHẦN 1)

Với bài viết này (3 phần), chúng ta cùng xem xét các thành phần khác nhau của máu và mô tả các vai trò mà chúng thể hiện trong chức năng tổng thể của máu. Chúng ta bắt đầu với việc mô tả phần lỏng của máu, được gọi là huyết tương (plasma), và vai trò trong việc vận chuyển các proteins, hormones, các chất điện ly, các dưỡng chất hữu cơ và các sản phẩm thải. Tiếp đó các thành phần của máu cũng được mô tả, bao gồm hồng cầu (erythrocytes), vận chuyển oxygen, carbon dioxide; các tế bào bạch cầu (leukocytes) bảo vệ cơ thể trước các yếu tố gây bệnh; và tiểu cầu (platelets), quan trọng đối với sự hình thành các cục máu đông để ngăn cản sự mất máu. Ngoài ra, chúng ta cũng sẽ trình bày sơ lược về nhóm máu, mà cụ thể ở đây là hệ nhóm máu ABO và Rh.

(Nguồn tham khảo: 

[1] Stanfield, Cindy L. (2012). Principles of human physiology, fifth edition. Pearson Education, Inc.
[2]  Fox, Stuart Ira. (2016). Human physiology, fourteenth edition. McGraw-Hill Education, 2 Penn Plaza, New York, NY 10121. )


1. Tổng quan về các thành phần máu: tỉ lệ thể tích huyết cầu


            Tổng thể tích máu trong cơ thể một người trưởng thành bình thường là khoảng 5.5 lít. Nó chứa chủ yếu huyết tương (khoảng 3 lít) và hồng cầu (khoảng 2.5 lít), nhưng cũng chứa cả các bạch cầu và tiểu cầu. (Hình 1). Tỉ lệ đóng góp của hồng cầu vào máu được gọi là tỉ lệ thể tích huyết cầu (hematocrit, ký hiệu là hct), được xác định bằng cách ly tâm một mẫu máu trong một ống ly tâm và thường được biểu hiện theo phần trăm (hình 2). Khi máu được ly tâm, các yếu tố của máu được tách ra dựa trên tỷ trọng. Bởi vì hồng cầu thì đặc hơn các thành phần khác của máu nên chúng bị kéo xuống đáy của ống nghiệm. Huyết tương, ít đặc nhất, nổi lên trên cùng. Giữa hai lớp này còn lại một lớp mỏng nữa của bạch cầu và tiểu cầu (chiếm khoảng dưới 1% tổng thể tích máu) và được gọi là lớp váng máu ly tâm (buffy coat).